6. Kiến Phúc Hoàng Đế Điệp

 

Nguyên văn:

建福皇帝牒

 

啟建資福道場齋壇  爲牒奏請事。兹奉

大南國孝姪嗣統皇帝阮...、建壇于純毅堅太王祠奉

佛修齋諷經資福酬恩事、維日虔僃齋儀、載陳菲禮、願焄蒿之默鑒、證芹曝之微、奏請于

皇帝徽號之金靈。

桂殿雲開、蓮臺瑞盎、陟降之神光在此、依稀之法駕如臨。兹惟天道運行、夏陽初至、莊嚴海會、壇開三晝之連霄、瑞靄雲烟、香滿十方之世界、諷誦大乘三寶尊經... (如前)、頂禮鴻名寶號、集此良因、祈增福果。今則齋筵整饌、科範宣揚、通濟度之津、仰憑妙訣、顯超昇之路、默證靈乘、長依般若之郷、永受如來之記、慶延家國、澤及臣民。須至牒請者。

右牒奏請

皇帝...之金靈默垂洞鑒。

 

Phiên âm:

KIẾN PHÚC1 HOÀNG ĐẾ ĐIỆP

 

Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn Vị điệp tấu thỉnh sự.

Tư phụng: Đại Nam Quốc hiếu điệt Từ Thống Hoàng Đế Nguyễn …, kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật kiền bị trai nghi, tải trần phỉ lễ; nguyện huân hao chi mặc giám, chứng cần bộc chi vi thầm; tấu thỉnh vu

Hoàng Đế Huy Hiệu Chi Kim Linh.

Quế điện2 vân khai, liên đài thụy ánh; trắc giáng chi thần quang3 tại thử, y hi4 chi pháp giá5 như lâm. Tư duy thiên đạo vận hành, Hạ dương sơ chí, trang nghiêm hải hội; đàn khai tam trú chi liên tiêu, thụy ải vân yên; hương mãn thập phương chi thế giới, phúng tụng Đại Thừa Tam Bảo Tôn Kinh … (như tiền), đảnh lễ hồng danh bảo hiệu; tập thử lương nhân, kỳ tăng phước quả. Kim tắc trai diên chỉnh soạn, khoa phạm tuyên dương; thông tế độ chi tân, ngưỡng bằng diệu quyết; hiển siêu thăng chi lộ, mặc chứng linh thừa; trường y Bát Nhã chi hương, vĩnh thọ Như Lai chi ký; khánh diên gia quốc, trạch cập thần dân. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tấu Thỉnh

Hoàng Đế … Chi Kim Linh mặc thùy động giám.

 

Dịch nghĩa:

ĐIỆP CÚNG HOÀNG ĐẾ KIẾN PHÚC

 

Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước Vì điệp tâu thỉnh.

Nay vâng: Việc cháu hiếu Hoàng Đế kế vị Nguyễn … nước Đại Nam, lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, vâng lời Phật dạy, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay thiết đủ nghi chay, kính bày lễ mọn; mong cúng tế thầm chứng giám, nhận lễ bạc với tâm thành; tâu thỉnh đến:

Kim linh Hoàng Đế huy hiệu …

Điện quế mây bày, sen đài tỏa sáng; lên xuống mà thần linh còn đó, thấp thoáng mà xa giá như đây. Nay theo đạo trời vận hành, tiết Hè mới đến; trang nghiêm pháp hội, đàn mở ba ngày suốt ba đêm; khói mây tốt lành, hương khắp mười phương các thế giới; trì tụng tôn kinh Tam Bảo Đại Thừa … (như trước); đảnh lễ hồng danh hiệu Phật, lấy nhân tốt nầy, cầu tăng quả phước. Nay tất cỗ chay bày sẵn, khoa lễ tuyên dương; thông tế độ bến bờ, nương nhờ mầu phép; rõ siêu thăng nẻo trước, thầm chứng linh hồn; luôn nương Bát Nhã quê hương, mãi được Như Lai thọ ký; vui khắp non nước, ơn thấm muôn dân. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Tâu Thỉnh

Kim linh Hoàng Đế … âm thầm chứng giám.

 

Chú thích:

  1. Hoàng Đế Kiến Phúc (建福, tại vị 1883-1884): vị vua thứ 7 của vương triều nhà Nguyễn, lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời. Tên húy của vua là Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登), Nguyễn Phúc Ưng Hỗ (阮福膺祜), còn gọi là Nguyễn Phúc Hạo (阮福昊); khi chưa lên ngôi thường được gọi là Dưỡng Thiện Đường (養善堂); thụy hiệu Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ Nghị Hoàng Đế; miếu hiệu là Giản Tông Nghị Hoàng Đế (簡宗毅皇帝); niên hiệu Kiến Phúc; Hoàng gia ca là Đăng Đàn Cung. Hoàng Đế là con thứ 3 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh; sau được vua Tự Đức (嗣德, tại vị 1847-1883) nhận làm con nuôi. Sau khi hai vua Dục Đức (育德, tại vị 1883-1883) và Hiệp Hòa (協和, tại vị 1883-1883) đều qua đời, Hoàng tử Ưng Đăng được các quan Phụ Chính Nguyễn Văn Tường (阮文祥, 1824-1886) và Tôn Thất Thuyết (尊室說, 1839-1913) đưa lên ngôi vào sáng sớm ngày mồng 3 tháng 11 năm Quý Mùi (1883). Tại vị được 8 tháng, vua Kiến Phúc mất vào ngày mồng 10 tháng 6 năm Giáp Thân (nhằm ngày 31 tháng 7 năm 1884), hưởng dương 15 tuổi. Nhà vua được an táng tại Bối Lăng. (Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Kiến_Phúc)
  2. Quế điện (桂殿): có ba nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng các ngôi điện vũ của Đạo Giáo cũng như Phật Giáo. Như trong bài Túc Diệu Đình Quán Thứ Đông Pha Cựu Vận (宿妙庭觀次東坡舊韻) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Quế điện xuy sanh dạ bất quy, Tô tiên thi bảng quải không bi (桂殿吹笙夜不歸、蘇仙詩板掛空悲, điện quế kèn vang đêm chẳng về, Đông Pha thơ bảng vọng không buồn).” (2) Chỉ cho chốn thâm cung, nơi ở của các Hậu Phi. Như trong bài Thượng Lại Bộ Thị Lang Đế Kinh Thiên (上吏部侍郎帝京篇) của Lạc Tân Vương (駱賓王, 640-684) nhà Đường có câu: “Quế điện âm sầm đối ngọc lâu, tiêu phòng yểu điệu liên kim ốc (桂殿陰岑對玉樓、椒房窈窕連金屋, điện quế thâm u đối ngọc lầu, Hậu Phi yểu điệu bao nhà vắng).” Hay trong bài Trường Môn Oán (長門怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường lại có câu: “Quế điện trường sầu bất ký xuân, hoàng kim tứ ốc khởi thu trần (桂殿長愁不記春、黃金四屋起秋塵, điện quế mãi sầu chẳng biết xuân, vàng ròng nhà cửa dậy bụi trần).” (3) Chỉ cho Nguyệt Cung (月宮), tức cung trăng. Như trong bài Hòa Mã Bá Dung Trừ Nam Đài Trung Thừa Dĩ Thi Tặng Biệt (和馬伯庸除南台中丞以詩贈別) của Tát Đô Thích (薩都剌, khoảng 1272-1355) nhà Nguyên có câu: “Quế điện thả lưu tu nguyệt phủ, Ngân Hà vị hứa độ tinh diêu (桂殿且留修月斧、銀河未許度星軺, cung Quảng còn lưu búa sửa trăng, Ngân Hà chưa hẹn xe chở sao).” Từ đó, có thuật ngữ quế điện lan cung (桂殿蘭宮, điện quế cung lan) để chỉ cho những cung điện quý phái, hoa mỹ, tráng lệ. Trong Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚菴智及禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1421) quyển 7, bài Ngoại Đạo Vấn Phật (外道問佛), có đoạn: “Hạo nguyệt đương không tợ giám viên, trần mao sát hải chiếu vô thiên, mê vân tán tận bác tang hiểu, quế điện Thường Nga oán vị miên (皓月當空似鑑圓、塵毛剎海照無偏、迷雲散盡搏桑曉、桂殿嫦娥怨未眠, trăng tỏ trên không tợ gương soi, chiếu soi muôn vật khắp mọi nơi, mây mù bủa khắp trời mờ sáng, cung Quảng Hằng Nga oán mãi hoài).”
  3. Thần quang (神光): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi khác của một kinh huyệt. Như trong tác phẩm Thiên Kim Yếu Phương (千金要方) do Tôn Tư Mạc (孫思邈, 581-682) nhà Đường sáng tác, có đoạn: “Thổ ẩu túc trấp thôn toan, cứu Thần Quang, nhất danh Đảm Mộ, Bách Tráng (吐嘔宿汁吞酸、灸神光、一名膽募、百壯, nôn mữa, giữ nước, ợ chua, lấy ngải cứu đốt huyệt Thần Quang, có tên khác là Đảm Mộ, Bách Tráng).” Trong Châm Cứu Giáp Ất Kinh (針灸甲乙經) có giải thích rằng: “Nhật Nguyệt, Thắng Mộ dã (日月、膽募也, huyệt Nhật Nguyệt là Thắng Mộ).” Cho nên, huyệt Thần Quang còn có tên là Nhật Nguyệt. (2) Đồng nghĩa với tinh thần. Như trong tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn (黃帝內經素問), phần Bổn Bệnh Luận (本病論) có câu: “Thần ký thất thủ, thần quang bất tụ (神旣失守、神光不聚, thần đã không giữ được, thì tinh thần không tụ lại được).” (3) Chỉ cho công năng của thị giác. Như trong tác phẩm Thẩm Thị Dao Hàm (審視瑤函) của Phó Nhân Vũ (傅仁宇, ?-?) nhà Minh giải thích rằng: “Thần quang giả, vị mục trung tự nhiên năng thị chi tinh hoa dã (神光者、謂目中自然能視之精華也, thần quang có nghĩa là tinh hoa trong con mắt tự nhiên có thể nhìn thấy được).” (4) Chỉ Huệ Khả (慧可, 487-593), hiệu là Thần Quang, Tổ sư thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa. (5) Ánh sáng, hào quang linh thiên, thần thánh. Như trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 7 có đoạn: “Khả dĩ phổ độc diệu chi thần quang, viên huyễn hữu chi vạn hạnh, sở vị vô thành chi thành, vô tu chi tu (可以普獨耀之神光、圓幻有之萬行、所爲無成之成、不修之修, có thể riêng tỏa sáng ấy thần quang, tròn giả huyễn ấy muôn hạnh, đó gọi không thành mà thành, không tu mà tu).” Hay trong Thứ Trung Vô Uấn Thiền Sư Ngữ Lục (恕中無慍禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1416) quyển 5 lại có đoạn: “Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, nhất đạo thần quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử vô nhị pháp, Tam Thừa Thập Địa hà tu siêu (獨孤標獨孤標、一道神光透九霄、涅槃生死無二法、三乘十地何須超, Độc Cô Tiêu Độc Cô Tiêu, một đạo hào quang thấu Cửu Tiêu, Niết Bàn sanh tử không hai pháp, Ba Thừa Mười Địa cần gì siêu).”
  4. Y hi (依稀、依希、依俙): có ba nghĩa. (1) Lờ mờ, mơ hồ, không sáng tỏ. Như trong bài thơ Hành Điền Đăng Hải Khẩu Bàn Tự Sơn (行田登海口盤嶼山) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Y hi thái lăng ca, phảng phất hàm tần dung (依稀採菱歌、彷彿含嚬容, mơ hồ ca hái ấu, phảng phất dáng u sầu).” Hay trong bài thơ Chí Hòa Nguyên Niên Tứ Nguyệt Nhị Thập Nhật Dạ Mộng Giác Nhi Lục Chi (至和元年四月二十日夜夢覺而錄之) cũng có câu: “Hoảng lãng thiên khai Vân Vụ Các, y hi thân tại Phụng Hoàng Trì (滉朗天開雲霧閣、依稀身在鳳皇池, rực rỡ trời bày Mây Sương Gác, mơ hồ thân tại Phụng Hoàng Hồ).” (2) Tương tự, giống như. Như trong bài Di Tống Tiểu Trứ Thư (貽宋小著書) của Điền Tích (田錫, 940-1004) nhà Tống có câu: “Vi văn vi thi, vi minh vi tụng, vi châm vi tán, vi phú vi ca, nhân ôn vẫn hợp, tâm dữ ngôn hội, nhậm kỳ hoặc loại ư Hàn, hoặc tiêu ư Liễu, hoặc y hi ư Nguyên Bạch, hoặc phảng phất ư Lý Đỗ (爲文爲詩、爲銘爲頌、爲箴爲贊、爲賦爲歌、氤氳吻合、心與言會、任其或類於韓、或肖於柳、或依稀於元白、或髣髴於李杜, là văn là thơ, là bài minh là bài tụng, là bài châm là bài tán, là bài phú là bài ca, như khí trời đất hòa hợp, tâm và lời gặp nhau, cho dù nó hoặc giống với Hàn Dũ [768-824], hoặc như Liễu Tông Nguyên [773-819], hay tương tự với Nguyên Chẩn [779-813] và Bạch Cư Dị [772-846], hay giống với Lý Bạch [701-762] và Đỗ Phủ [712-770]).” (3) Nhỏ mọn, chút ít. Như trong bài Tế Trần Tiên Bối (祭陳先輩) của Hoàng Thao (黃滔, 840-911) nhà Đường có câu: “Cẩn dĩ y hi sơ quả, nhất nhị tinh thành, nguyện minh phù ư hật hưởng, thân vĩnh quyết ư u minh (謹以依稀蔬果、一二精誠、願冥符於肹蠁、申永訣於幽明, xin lấy rau quả ít ỏi, một hai tấc thành, nguyện thầm chứng thảy cùng khắp, mong trối trăn chốn âm dương).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 9 có đoạn: “Nhân thiên hình tượng, diện mục y hi, y thường đạm bạch, thần tình phiêu động, tợ vô sở y, tợ hữu sở y (人天形像、面目依稀、衣裳淡白、神情飄動、似無所依、似有所依, hình tượng trời người, mặt mày giống hệt, áo quần đạm bạc, tinh thần lay động, như không chỗ nương, như có chỗ nương).” Hay trong Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục (湛然圓澄禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1444) quyển 8, phần Ưng Khòa Đảnh Vân Tụ Am Vô Hoại Quan Chủ (鷹窠頂雲岫菴無壞關主), lại có đoạn: “Tích nhật văn danh vị kiến y, kim triêu dung mạo thượng y hi, thiên nhai hải giác tầm tương tợ, nhược cá mi mao bất hạ thùy (昔日聞名未見伊、今朝容貌尚依稀、天涯海角尋相似、若個眉毛不下垂, ngày xửa nghe danh chẳng thấy hình, sáng nay dung mạo lại mờ thinh, bờ trời góc bể tìm tương tự, giống mấy lông mày chẳng rủ hàng).”

Pháp giá (法駕): tên một loại cỗ xe của thiên tử; tùy theo vị trí cao thấp của thiên tử mà có 3 loại: đại giá (大駕), pháp giá (法駕), tiểu giá (小駕); và cũng khác nhau về nghi thức hộ vệ, v.v. Như trong Sử Ký (史記), chương Lữ Thái Hậu Bổn Kỷ (呂太后本紀) có câu: “Nãi phụng thiên tử pháp giá, nghênh đại vương ư để (乃奉天子法駕、迎代王於邸, bèn vâng xa giá của thiên tử, đón đức vua ở tư gia).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰泉院因師集賢語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2, phần Phổ Biến Văn (普變文), cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, đón thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y Năm Nhãn Sáu Thông, mong xe pháp hãy quang lâm, rước xe hương mà giáng xuống).” Hoặc như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 2, phần Tuần Liêu (巡寮), lại có câu: “Phục mông Hòa Thượng pháp giá phỏng lâm, hạ tình bất nhậm cảm kích chi chí (伏蒙和尚法駕訪臨、下情不任感激之至, cúi mong Hòa Thượng xe pháp đến thăm, chúng hạ tình thật cảm kích vô tận).”